Hội nghị thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (3-2-1930)
Sự
ra đời của ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam
trong năm 1929 là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam . Các tổ
chức cộng sản trên đã nhanh chóng xây dựng cơ sở đảng trong nhiều địa phương,
và trực tiếp tổ chức, lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân.
Phong trào công nhân kết hợp chặt trẽ với phong trào đấu tranh của nông dân
chống sưu cao thuế nặng, chống cướp ruộng đất, phong trào bãi khóa của học
sinh, bãi thị của tiểu thương, tạo thành một làn sóng đấu tranh cách mạng dân
tộc dân chủ khắp cả nước.
Nhưng trong một nước có ba tổ chức
cộng sản hoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng của
nhau, gây nên một trở ngại rất lớn cho phong trào cách mạng. Tình hình đó nếu
để kéo dài sẽ có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách
mạng Việt Nam
lúc này là phải có một Đảng Cộng Sản thống nhất trong cả nước.
Trước tình hình đó với tư cách là
phái viên của quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc có đầy đủ quyền quyết định mọi
vấn đề của phong trào cách mạng ở Đông Dương đã thống nhất các lực lượng cộng
sản ở Việt Nam để thành lập một Đảng Cộng Sản duy nhất.
Từ ngày 3 đến 7-2-1930, hội nghị hợp
nhất các tổ chức cộng sản đã họp ở Cửu Long (Hương Cảng). Nguyễn Ái Quốc thay
mặt quốc tế cộng sản chủ trì hội nghị. Tham gia hội nghị có 2 đại biểu của Đông
Dương Cộng Sản Đảng, 2 đại biểu của An Nam Cộng Sản Đảng.
Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, hội
nghị đã hoàn toàn nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộng sản để thành
lập một chính đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam . Hội nghị đã thông qua Chính
Cương Vắn Tắt, Sách Lược Vắn Tắt, Điều Lệ Vắn Tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc dự
thảo. Hộ nghị hợp nhất tháng 2-1930 của đại biểu các tổ chức cộng sản ở Đông
Dương để hợp nhất Đảng có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng. Chính cương
vắn tắt, sách lược vắn tắt được hội nghị thông qua hợp lại thành cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng.
Những văn kiện của cương lĩnh đầu
tiên đó của Đảng đã vạch rõ cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn:
Cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân)
và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai giai đoạn cách mạng đó kế tiếp nhau không có
bức tường nào ngăn cách. Cương lĩnh viết " Chủ trương làm tư sản dân quyền
cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"
Như vậy là ngay từ đầu, Đảng cộng
sản Việt Nam
đã thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng nước ta là con đường
kết hợp và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chũ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân
quyền ở nước ta là đánh đổ bọn đế quốc Pháp, bọn phong kiến và giai cấp tư sản
phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập, dựng lên chính phủ công
nông binh, tổ chức ra quân đội công nông, tịch thu hết sản nghiệp lớn của bọn
đế quốc, tịch thu đất của bọn đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho dân
cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất, đem lại ruộng đất cho nông dân... Các
nhiệm vụ đó bao hàm cả nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống
phong kiến, nhưng nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phản động,
giành độc lập tự do cho toàn thể dân tộc. Lực lượng để đánh đổ đế quốc và phong
kiến là công nông. Đồng thời "phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí
thức, trung nông... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với ... phú nông,
trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi
dụng, ít ra cũng làm cho họ trung lập"
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng vô
sản thế giới, đứng về phía mặt trận cách mạng gồm các dân tộc thuộc địa bị áp
bức và giai cấp công nhân thế giới.
Cương lĩnh khẳng định sự lãnh đạo
của Đảng Cộng Sản Việt Nam - đản của giai cấp vô sản và là đội tiên phong của
giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lenin làm nền tảng tư tưởng là nhân tố
quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng phải có trách nhiệm thu phục
được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân
chúng, phải thu phục được đại đa số dân cày và phải dựa vững vào hạng dân cày
nghèo, đồng thời phải liên minh với các giai cấp cách mạng và tầng lớp yêu nước
khác, đoàn kết họ, tổ chức họ đấu tranh chống đế quốc và phong kiến.
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của
Đảng Cộng Sản Việt Nam
do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là một cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng
đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và
tính nhân văn. Độc lập dân tộc và tự do là tư tưởng cốt lõi của cương lĩnh này.
Sau hội nghị hợp nhất, Đông Dương
Cộng Sản Liên Đoàn đã yêu cầu gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam , yêu cầu đó được chấp nhận. Như
vậy chỉ trong một thời gian ngắn, cả ba tổ chức cộng sản ở Việt Nam đã được hợp nhất thành một đảng thống nhất
Đảng Cộng Sản Việt Nam .
Từ đây cách mạng Việt Nam
đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp và duy nhất của Đảng.

sao ko nhận xét = FB dc vay.
Trả lờiXóa