ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
Câu 1: (2 điểm)
Nêu nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị đầu tiên do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng (3-2-1930).
( Câu này dựa vào nội dung bài 4, sgk lịch sử 12, tập hai, nxb giáo dục, Hà Nội, 2001, tr24-25).
Ý 1: Từ ngày 3 đến 7-2-1930, tại Cửu Long (Hương Cảng), hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã tán thành lập một chính đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Viêt Nam. Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, do Nguyến Ái Quốc soạn thảo. Đó là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. (0,25 điểm)
Ý 2: Nội dung cơ bản của cương lĩnh chính trị: (1,5 điểm)
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản... (0,25 điểm).
- Nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tư sản phản cách mạng, làm cho nước Việt Nam độc lập, thành lập chính phủ công nông binh, xây dựng quân đội công nông. Tịch thu sản nghiệp lơn của bọn đế quốc, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và bọn phản cách mạng đem chia cho dân nghèo... Trong đó quan trọng nhất là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân (0,5 điểm).
Lực lượng của cách mạng bao gồm chủ yếu là công nông, ngoài ra còn phải liên kết với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hay ít ra cũng trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ, tư sản Việt Nam chưa lộ rõ bản chất phản cách mạng. (0,25 điểm)
- Lãnh đạo cách mạng là Đảng Cộng Sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp vô sản, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. (0,25 điểm).
- Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của vô sản cách mạng thế giới đứng cùng mặt trận với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp công nhân Pháp. (0,25 điểm).
Ý 3: Ý nghĩa: cương lĩnh đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo tuy vắn tắt nhưng đã thể hiện rõ tư tưởng cách mạng đúng đắn, sáng tạo, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn sâu sắc, thấu suốt con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. (0,25 điểm)
Câu 2: (3 điểm)
Từ kiến thức lịch sử về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954), hãy trình bày và phân tích...
(Câu này dựa vào nội dung bài 9, sgk Lịch sử 12, tập hai, nxb giáo dục, Hà Nội, 2001, tr.80-82).
Ý 1: Bối cảnh ra đời lời kêu gọi... (1 điểm)
Sau hiệp định sơ bộ 6-3 và tạm ước 14-9, chấp hành chủ trương của chính phủ, nhân dân ta kiên trì đấu tranh giữ vững hòa bình, tranh thủ thời gian để chuẩn bị lực lượng, đề phòng khả năng bất chắc phải kháng chiến chống Pháp lâu dài. (0,25 điểm)
Thự dân Pháp bội ước chúng đã tăng cường các hành động khiêu khích, ngày 27-11-1946 quân Pháp chiếm đóng Hải Phòng. Tại Hà Nội, ngày 17-12-1946, chúng cho quân bắn đại bác và súng cối vào phố Hàng Bún, chiếm trụ sở bộ tài chính... Ngày 18-12-1946, chúng láo xược gửi tối hậu thư buộc chính phủ ta phải giải tán lực lượng tự vệ chiến đấu và giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng. (0,25 điểm)
- Trước hành động ngang ngược của thực dân Pháp, nhân dân ta chỉ có một con đường: cầm vũ khí kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược để bảo vệ nền độc lập, tự do.
Trong hoàn cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngay trong đêm 19-12-1946. (0,25 điểm)
- Lời kêu gọi của người là tiếng gọi của non sông, là mệnh lệnh tiến công cách mạng, giục giã, soi đường cho nhân dân ta đứng lên đánh giặc, cứu nước. (0,25 điểm)
Ý 2: Phân tích nội dung đường lối kháng chiến: (2,0 điểm)
- Đường lối kháng chiến của Đảng thể hiện trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh, chỉ thị toàn dân kháng chiến của ban thường vụ trung ương Đảng và được giải thích cụ thể trong cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh. Đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. (0,25 điểm)
+ Kháng chiến toàn dân: Nghĩa là mọi người dân đều tham gia đánh giặc, không phân biệt trẻ già, trai gái, thành phần dân tộc... Mỗi người Việt Nam là một chiến sĩ... Bởi so sánh lực lượng lúc đầu ta yếu hơn địch về quân sự, kinh tế nhưng ta chiến đấu về chính nghĩa, mọi người dân đều có tinh thần yêu nước căm thù giặc, ai cũng một lòng kháng chiến. Vì vậy, cần phải huy động toàn dân. Một khi toàn dân tham gia kháng chiến thì thực dân Pháp đặt chân đến đâu cũng đều bị dân ta đánh và chính nhân dân là nguồn cung cấp sức người, sức của dồi dào cho cuộc kháng chiến... (0,5 điểm)
+ Kháng chiến toàn diện: Nghĩa là kháng chiến về mọi mặt quân sự, kinh tế, ngoại giao, chính trị, văn hóa, xã hội...
Bởi vì, địch đánh ta không chỉ về quân sự mà còn đánh ta trên nhiều lĩnh vực khác: phá hoại kinh tế ta, tìm cách làm cho ta suy yếu về chính trị, dụ dỗ ru ngủ dân ta, nhất là thanh thiếu niên quên đi nỗi nhục mất nước bằng cách truyền bá văn hóa đồi trụy, tìm cách cô lập nước ta với quốc tế... Mặt khác, ta vừa kháng chiến lại vừa phải kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân... (0,25 điểm)
+ Kháng chiến lâu dài: Sở dĩ như vậy là vì, trên thực tế vào lúc mở đầu chiến tranh, địch mạnh hơn ta rất nhiều về quân sự, chúng có cả một quân đội chuyên nghiệp, trang bị hiện đại, vũ khí tối tân, lại có các đế quốc khác giúp đỡ. Âm mưu của chúng là đánh nhanh thắng nhanh để kết thúc chiến tranh. Ngược lại, quân đội ta còn non trẻ, vũ khí thô sơ. Ta đánh lâu dài để vừa đánh, vừa tiêu hao dần lực lượng của địch, phát triển dần lực lượng của ta, đợi đến khi ta mạnh hơn địch mới đánh bại được chúng. (0,25 điểm)
+ Kháng chiến dựa vào sức mình là chính: Nghĩa là lấy chính sức người, sức của của bản thân và của toàn dân tộc để phục vụ kháng chiến nhằm phát huy tiềm năng vốn có của cả dân tộc, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế nhưng không ỷ lại vào sự giúp đỡ đó. (0,25 điểm).
"Lấy sức ta mà giải phóng cho ta" là quan điểm xuyên suốt trong tiến trình cách mạng của nhân dân ta do Đảng lãnh đạo. Đây là con đường duy nhất đúng để phát huy tiềm năng vốn có của dân tộc: truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự cường... Sức mạnh nội sinh một khi được khơi dậy thì sự giúp đỡ của bên ngoài mới được phát huy. Hơn nữa, chỉ khi biết dựa vào chính mình thì mới không trông chờ ỷ lại. (0,25 điểm)
Bốn mặt trên đây của đường lối kháng chiến là một thể thống nhất có liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Đường lối kháng chiến đúng đắn đó được tiếp tục bổ xung trong suốt quá trình của cuộc kháng chiến, đã có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cuộc cách mạng. (0,25 điểm)
Câu 3: (3 điểm)
Âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt"...
(nội dung này thuộc bài 13, sgk lịch sử 12, tập hai, nxb giáo dục, HN 2001)
Ý 1: Âm mưu, thủ đoạn: (0,75 điểm)
Để đối phó với tình hình cách mạng đang lên ở Việt Nam cũng như trên thế giới, tổng tống Mĩ Jonh Kennodi đề ra chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt Miền nam Việt Nam được Mĩ chọn làm nơi thí điểm để tiến hành chiến lược "chiến tranh đặc biệt" (0,25 điểm).
- "Chiến tranh đặc biệt" là hình thức chiến tranh xâm lược của Mĩ, được tiến hành bằng quân đội tay sai, dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mĩ và dựa vào vũ khí, trang bị kĩ thuật, phương tiện chiến tranh của Mĩ nhằm chống lại phong trào cách mạng của nhân nhân ta. (0,25 điểm)
Ý 2: Cuộc chiến đấu của quân và dân miền Nam... (2,25 điểm)
Đáp ứng yêu cầu của cách mạng, ngày 15-2-1961, các lực lượng vũ trang cách mạng thống nhất thành quân giải phóng miền Nam. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã phát triển rộng rãi, có cơ sở khắp các địa phương. (0,25 điểm)
Dưới ngọn cờ đoàn kết của mặt trận dân tộc giải phóng do Đảng lãnh đạo, quân và dân miền nam đã đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, nổi dậy với tiến công trên cả ba vùng chiến lược, tiến công địch bằng ba mũi giáp công: chính trị, quân sự, binh vận. (0,25 điểm)
Trên mặt trận quân sự:
+ Ngày 2-1-1963, quân ta đã giành thắng lợi vang dội trong trận Ấp Bắc (Mĩ Tho)... bước đầu chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận của địch bị phá sản (0,25 điểm).
+ Tiếp theo, trong đông-xuân 1964-1965, quân dân miền Đông nam bộ đã mở cuộc tiến công vào Bình Giã (2-12-1964). Với chiến thắng Bình Giã, quân dân miền nam đã làm phá sản cơ bản chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" của Mĩ...(0,25 điểm).
- Trên mặt trận chống phá Bình Định, từ cuối năm 1964 đến 1965, từng mảng lớn "ấp chiến lược" do địch lập nên bị phá vỡ... (0,5 điểm)
- Phong trào đấu tranh chính trị lên cao ở khắp các đô thị và nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Đặc biệt là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Ở Huế phong trào của phật tử phát triển mạnh và lan nhanh khắp các vùng. Tại Sài Gòn ngày 11-6-1963 Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối Diệm. Ngày 11-6-1963 hơn 70 vạn quần chúng Sài Gòn biểu tình làm rung chuyển chính quyền ngụy. (0,5 điểm).
Đến đầu năm 1965, trước sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt Mĩ buộc phải chuyển sang chiến lược "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. (0,25 điểm).
Câu 4: (2 điểm)
Sự phát triển của kinh tế Nhật Bản...
(Nội dung câu này thuộc bài 3, sgk lịch sử 12, tập một, NXB giáo dục, HN 2001)
Ý 1: Bối cảnh Nhật Bản sau chiến tranh... (0,25 điểm)
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản là nước bại trận, mất hết thuộc địa, đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Kinh tế Nhật Bản lâm vào tình trạng khó khăn nghiêm trọng (thất nghiệp, lạm phát...). Nhật Bản phải dựa vào viện trợ của Mĩ dưới hình thức vay nợ để phát triển kinh tế.
Ý 2: Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế... (0,75 điểm)
- Những năm 1945 - 1950, kinh tế Nhật Bản phát triển chậm chạp và phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Mĩ. Nhưng từ sau chiến tranh Triều Tiên (6-1950), công nghiệp Nhật Bản phát triển mạnh lên nhờ những đơn đặt hàng quân sự từ Mĩ... (0,25 điểm)
Bước sang những năm 60, nền kinh tế Nhật Bản có những bước phát triển thần kì, đuổi kịp và vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng hàng thứ hai trong thế giới tư bản sau Mĩ. Trong khoản thời gian hơn 20 năm (1950-1973), tổng sản phẩm quốc dân tăng 20 lần. (0,25 điểm)
Từ những năm 70 trở đi, Nhật Bản trở thành một trong ba trung tâm kinh tế, tài chính của thế giới, dự trữ vàng và ngoại tệ vượt Mĩ, hàng hóa Nhật Bản xâm nhập, cạnh tranh khắp các thị trường thế giới... (0,25 điểm).
Ý 3: Nguyên nhân...(1 điểm)
- Nhật Bản biết lợi dụng vốn của nước ngoài để tập trung đầu tư vào những nghành công nghiệp then chốt, Nhật ít chi tiêu về quân sự, biên chế nhà nước gọn nhẹ. (0,25 điểm)
- Nhật Bản biết lợi dụng những thành tựu khoa học - kỹ thuật của thế giới để phát triển kinh tế, biết len lách xâm nhập vào thị trường các nước. (0,25 điểm)
- Những cải cách dân chủ sau chiến tranh đã thúc đẩy kinh tế Nhật Bản phát triển. (0,25 điểm)
- Truyền thống tự lực, tự cường của nhân dân và khả năng điều hành nền kinh tế của giới kinh doanh cũng như những nhà lãnh đạo Nhật Bản. (0,25 điểm)
Bài viết liên quan: Đề thi ĐH-CĐ môn sử. Đề số 7 (2002 - 2003)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét