Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Đáp án đề thi ĐH - CĐ môn sử. Đề số 5 (2002 - 2003)

ĐÁP ÁN THANG ĐIỂM

Câu 1: (4 điểm)
Làm rõ tính đúng đắn và sáng tạo của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (tháng 2-1930).
Thí sinh cần nêu được các nội dung sau:

Ý 1:- Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta được thông qua tại hội nghị thành lập Đảng (từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930) ở Hương Cảng, Trung Quốc là Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp soạn thảo (0,5 điểm).

Ý 2:- Nội dung chính gồm:

+ Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: Trước làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản (0,5 điểm).

+ Vạch ra nhiệm vụ cách mạng trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội: đánh đổ đế quốc và phong kiến, tư sản phản động, giành độc lập dân tộc, thành lập nhà nước công-nông-binh, tổ chức quân đội công-nông, rồi tịch thu hết sản nghiệp lớn của bọn đế quốc, lấy ruộng đất địa chủ phong kiến chia cho dân cày (0,5 điểm).

+ Lực lượng cách mạng chủ yếu là công nông, đồng thời phải liên minh với tiểu tư sản, tranh thủ hoặc ít nhất là lợi dụng, trung lập tầng lớp phú nông, trung và tiểu địa chủ, tư sản dân tộc chưa ra mặt phản cách mạng (0,5 điểm).

+ Cách mạng phải đảm bảo được sự lãnh đạo tuyệt đối của đội tiên phong của giai cấp vô sản (0,5 điểm)

+ Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới.
Cách mạng Việt Nam phải đứng về phía mặt trận đấu tranh của các nước thuộc địa cũng như phong trào vô sản ở các nước đế quốc (0,5 điểm).

Ý 3: + Bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng tuy còn sơ lược, vắn tắt nhưng đã đề ra được những nét hết sức cơ bản của đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là giành độc lập dân tộc và giành ruộng đất cho dân cày (0,5 điểm).

+ Thể hiện Đảng ta ngay từ đầu đã vận dụng một cách sáng tạo nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Leenin vào điều kiện cụ thể nước ta. Nó vừa thấm đượm tính giai cấp, vừa nhuần nhuyễn về mặt dân tộc. Đặc biệt, Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã rất chú trọng đến vấn đề dân tộc, đưa vấn đề dân tộc lên hàng đầu (0,5 điểm).

Câu 2: (3 điểm)
 Quá trình chuẩn bị của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.
 Thí sinh cần nêu được các ý sau:

Ý 1: Miền bắc tự hoàn thiện mình và làm tròn nghĩa vụ hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho miền Nam.

+ Đến cuối tháng 6-1975, miền Bắc đã căn bản hoàn thành việc tháo gỡ bom, mìn, thủy lôi trên sông, trên biển. Về cơ bản đã khắc phục xong các cơ sở kinh tế, các hệ thống thủy nông, các công trình văn hóa, giáo dục, y tế. Kinh tế có bước phát triển mới, đời sống của nhân dân được ổn định (0,25 điểm).

+ Thực hiện nghĩa vụ hậu phương trong hai năm 1973-1974, miền Bắc đã đưa vào chiến trường miền Nam, Lào, Campuchia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, nhân viên kĩ thuật. Trong hai tháng đầu năm 1975, miền Bắc đã gấp rút đưa vào miền Nam 57000 bộ đội (trong tổng số 108000 bộ đội của kế hoạch động viên năm 1975).

 Miền Bắc cũng đưa vào chiến trường hàng chục vạn tấn vật chất gồm vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng, xăng dầu, thuốc men...(0,25 điểm).

+ Trong hai năm 1973-1974, ta đã mở rộng và nâng cấp tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc-Nam. Tuyến đường dài 16000km, gồm 6 trục đường dọc, theo sườn đông và tây Trường Sơn, 25 đường trục ngang qua núi, một hệ thống đương nhánh tỏa ra các chiến trường. Ta cũng xây dựng được hệ thống đường ống dẫn dầu dài 5000km vươn tới Lộc Linh và một hệ thống đường thông tin liên lạc hữu tuyến đến tận các chiến trường (0,25 điểm)

 Ý 2: Miền Nam tiếp tục tạo thế và lực, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy (1,5 điểm)

+ Do Mĩ-Ngụy cố tình phá hoại hiệp định Pari nên nghị quyết 21 của Trung ương Đảng nhấn mạnh "Con đường giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam là  con đường bạo lực..."

+ Chấp hành mệnh lệnh trên, quân dân miền Nam đẩy mạnh hoạt động trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao để buộc Mĩ-Ngụy phải thực hiện nghiêm túc hiệp định.

+ Trên cơ sở mặt trận quân sự, ta kiên quyết đánh trả các cuộc hành quân bình định lấn chiếm của địch nhằm bảo vệ vùng giải phóng. Đặc biệt, ta giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch đường 14-Phước Long (tháng 12-1974 đến ngày 6-1-1975).

 Để tạo ra thế và lực mới, đầu năm 1975, trên cơ sở các sư đoàn, ta đã thành lập các quân đoàn như Quân đoàn 1, Quân đoàn 2, Quân đoàn 3.

 Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị và trên khắp miền Nam vẫn tiếp tục dâng cao, đòi Mĩ-Ngụy thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định Pari.

 Tại các vùng giải phóng, nhân dân ra sức khôi phục kinh tế, bảo vệ, xây dựng vùng giải phóng, ra sức đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, tăng nguồn dự chữ chiến lược.

 Ý 3: Đảng chuẩn bị kế hoạc cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy (0,5 điểm).

+ Hội nghị bộ chính trị (30-9 đến 7-10-1974) và hội nghị bộ chính trị mở rộng (18-12-1974 đến 8-1-1975) bàn về kế hoạc giải phóng miền Nam. Bộ chính trị đang họp thì Phước Long được giải phóng (6-1-1975). Bộ chính trị đã có cơ sở để đưa ra kế hoạch 2 năm (1975-1976) giải phóng miền Nam, cụ thể là:

 Năm 1975, tranh thủ thời cơ bất ngờ tiến công địch trên quy mô lớn, rộng khắp, tạo điều kiện để đến năm 1976 tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam.

 Tuy vậy, Bộ chính trị cũng nhân định: Cả năm 1975 là thời cơ và chỉ rõ: "Nếu thời cơ đến đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975".

Ý 4: Như vậy từ sau hiệp định Pari (1973), toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt: Vật chất, tinh thần, lực lượng và vạch ra kế hoạch để thực hiện tổng tiến công nổi dậy Xuân 1975 đã thắng lợi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (0,25 điểm).

Câu 3: (3 điểm)
 Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở trung quốc (1946-1949) thành công đã có ảnh hưởng như thế nào đến với sự nghiệp cách mạng Trung Quốc nói riêng và cách mạng thê giới nói chung ?

- Ý 1: Khái quát nguyên nhân, diễn biến của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ (0,25 điểm).

+ Sau cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi (1945), do mâu thuẫn giữa hai lực lượng Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng  đã dẫn đến cuộc nội chiến lần thứ ba ở Trung Quốc.

+ Cuộc nội chiến diễn ra từ ngày 20-7-1946 đến tháng 9-1949. Kết quả là lực lượng cách mạng do Đảng Cộng Sản Trung Quốc lãnh đạo đã đánh bại bè lũ Tưởng Giới Thạch.

 Ngày 23-4-1949, thủ phủ của Trung Hoa Dân Quốc là Nam Kinh được giải phóng quân đội Trung Hoa Dân Quốc bị đánh bật khỏi Trung Quốc đại lục, phải tháo chạy ra đảo Đài Loan.

+ Ngày 1-10-1949, tại quảng trường Thiên An Môn, Mao Trạch Đông long trọng tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Nhân Trung Hoa.

- Ý 2: Sự kiện đó có ý nghĩa đối với lịch sử Trung Quốc (1,5 điểm):

+ Đánh dấu Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Trung Quốc đã thành công. Với thắng lợi này đã kết thúc sự nô dịch và thống trị của đế quốc, phong kiến, tư sản mại bản kéo dài hơn 100 năm qua.

+ Mở ra cho nhân dân Trung Quốc một kỉ nguyên mới: Kỉ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

+ Từ sau thắng lợi đó, nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã liên tiếp giành nhiều thắng lợi trong công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt từ năm 1978 đến nay, vơi đường lối đổi mới, Đảng cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã thu được nhiều thắng lợi trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Có thể nói Trung Quốc là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên tiến hành cải cách mở cửa thành công.

- Ý 3: Thành công của cách mạng Trung Quốc có ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung (1 điểm)

+ Với diện tích bằng 1/4 diện tích châu Á và chiếm 1/4 diện tích toàn cầu, thắng lợi của cách mạng Trung Quốc có tác động lớn đến cách mạng thế giới mà trước hết là tăng cường lực lượng cho phe xã hội chủ nghĩa và động viên cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, đặc biệt là các nước Á, Phi, Mĩ latinh.

+ Việc Trung Quốc thu được nhiều thắng lợi từ sau cuộc cách mạng dân tộc dân chủ (1946-1949) đã để lại nhiều bài học cho cách mạng các nước đặc biệt là Việt Nam, một nước gần Trung Quốc, đang tiến hành cải cách mở cửa và đổi mới đất nước.

- Ý 4: Thành công trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc (1946-1949) không những có ý nghĩa  đối với sự nghiệp cách mạng Trung Quốc nói riêng mà còn ảnh hưởng rất lớn, tác động tích cực đến sự nghiệp cách mạng thế giới nói chung. (0,25 điểm)

THANH ĐIỂM:

Câu 1: 4 điểm
          Ý 1: 0,5 điểm
          Ý 2: 2,5 điểm (mỗi ý nhỏ 0,5 điểm)
          Ý 3: 1 điểm (mỗi ý nhỏ 0,5 điểm)

Câu 2: 3,0 điểm.
          Ý 1: 0,75 điểm (mỗi ý nhỏ 0,25 điểm)
          Ý 2: 1,5 điểm (mỗi ý nhỏ 0,25 điểm)
          Ý 3: 0,5 điểm (mỗi ý nhỏ 0,25 điểm)
          Ý 4: 0,25 điểm

Câu 3: 3,0 điểm.
          Ý 1: 0,25 điểm
          Ý 2: 1,5 điểm (mỗi ý nhỏ 0,5 điểm)
          Ý 3: 1 điểm (mỗi ý nhỏ 0,5 điểm)
          Ý 4: 0,25 điểm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét