ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
Câu 1: (5 điểm)
Phân tích đặc điểm tình hình nước ta sau hiệp định Giơnevơ 1954. Nêu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
• Phân tích đặc điểm tình hình nước ta sau hiệp định Giơnevơ (3,5 điểm)
- Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được kí kết đã đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp có đế quốc Mĩ giúp sức đối với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
- Chúng ta đã thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản quy định về đình chiến, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực. Nhưng phía Pháp chỉ thực hiện khi có sự đấu tranh mạnh mẽ và kiên quyết của quân dân ta.
- Ngày 10-10-1954, quân Pháp rút khỏi Hà Nội.Cùng ngày quân tiến quân vào tiếp quản, thủ đô được giải phóng.
- Ngày 1-1-1955, tại Quảng trường Ba Đình diễn ra diễn ra cuộc mít tinh trọng thể của hàng chục vạn nhân dân Hà Nội chào mừng Trung Ương Đảng, Chính Phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh về thủ đô.
- Ngày 16-5-1955, toán lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hải Phòng và ngày 22-5-1955, rút khỏi đảo Cát Bà. Miền bắc nước ta hoàn toàn giải phóng.
- Khi rút quân Pháp mang theo hoặc phá hỏng nhiều máy móc, thiết bị, tài sản để gây khó khăn cho ta. Pháp cùng với Mĩ và Ngô Đình Diệm chỉ đạo bọn phản động tiến hành dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào Công giáo vào Nam để thực hiện ý đồ chống phá cách mạng về sau.
- Ở miền nam thực dân Pháp cũng có những hành động phá hoại hiệp định mới được kí kết. Ngày 14-5-1956 chính phủ Pháp gửi cho hai Chủ tịch hội nghị Giơnevơ về Đông Dương bản thông điệp thông báo về việc quân viễn chinh ở miền nam rút hết về nước, quân Pháp rút toàn bộ khỏi miền nam trong khi còn nhiều điều khoản của hiệp định có liên quan đến trách nhiệm của họ chưa được thi hành...
- Mĩ ra sức thực hiện ý đồ nhằm độc chiếm miền nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn bộ Đông Dương, ngày 25-6-1954, Mĩ đã ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm thay Bửu Lộc lên làm Thủ tướng chính phủ bù nhìn ở miền nam Việt Nam.
- Ngày 23-7-1954, Ngoại trưởng Mĩ Đalét tuyên bố: Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng mà phải làm sao cho việc thất thủ miền bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương.
- Tháng 9-1954, Mĩ lôi kéo Pháp, Anh và một số nước Đông Nam Á lập ra khối liên minh quân sự Đông Nam Á (SEATO) và ngang nhiên đặt miền nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này.
- Tháng 9-1954, Mĩ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm.
Dưới sự giúp đỡ, chỉ đạo của Mĩ, chính quyền Ngô Đình Diệm ra sức phá hoại hiệp định, từ chối Hiệp thương với Chỉnh phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa để thống nhất nước Việt Nam theo hiệp định, đã tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập Ngô Đình Diệm làm tổng thống, lập nước Việt Nam cộng hòa (10 -1956).
• Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới (1,5 điểm)
- Trong tình hình đất nước tạm thời bị chia cắt, Đảng và chính phủ ta đã đề ra chủ trương cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền.
+ Ở miền Bắc: Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, cách mạng dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, trước tiên phải khôi phục, cải tạo kinh tế miền Bắc vừa kết hợp chống chiến tranh phá hoại nhằm bảo vệ miền Bắc và phối hợp chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
+ Ở miền Nam: Tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trước tiên đấu tranh đòi Mĩ - Diệm thi hành hiệp định Giơnevơ, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mĩ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc.
- Hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ khăng khít, chi phối lẫn nhau cùng thực hiện mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc.
Câu 2: (2 điểm)
Phân tích diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân miền Nam.
• Diễn biến cuộc tổng tiến công chiến lược năm 1972 (1 điểm)
- Ngày 30-3-1972, lợi dụng lúc địch chủ quan sơ hở do phán đoán sai lầm về thòi gian, quy mô và hướng tiến công của quân ta, quân ta bắt đầu mở cuộc tiến công chiến lược theo đúng kế hoạch của quân ủy trung ương. Mở đầu cuộc tiến công, quân ta đánh vào Quảng Trị, lấy Quảng Trị làm hướng tiến công chủ yếu, rồi phát triển rộng ra khắp chiến trường miền Nam và kéo dài trong năm 1972.
- Quân ta tiến công địch với cường độ mạnh, quy mô rộng lớn, trên hầu hết các địa bàn chiến lược quan trọng và trong thời gian ngắn đã chọc thủng ba phòng tuyến: Quảng Trị, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ.
• Kết quả (0,5 điểm)
- Sau gần 3 tháng chiến đấu, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2 vạn quân địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với hơn 1 triệu dân.
- Sau đòn bất ngờ choáng váng, quân địch đã phản công mạnh, gây ra một số thiệt hại. Phối hợp với quân ngụy, Mĩ trở lại gây chiến tranh phá hoại miền Bắc.
• Ý nghĩa (0,5 điểm)
Đã mở ra bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mĩ, giáng một đòn mạnh mẽ vào quân ngụy và quốc sách "bình đinh" của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
- Buộc Mĩ phải tuyên bố "Mĩ hóa" trở lại chiến tranh xâm lược (tức Mĩ đã thừa nhận sự thất bại của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh").
Câu 3: (3 điểm)
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống tư bản chủ nghĩa đã phát triển qua các giai đoạn sau: (1,5 điểm)
- 1945-1950: Giai đoạn vươn lên "đỉnh cao" của chủ nghĩa tư bản Mĩ, thông qua "viện trợ" kinh tế, quân sự, thành lập khối quân sự dẫn đến khống chế chặt trẽ các nước Tây Âu, Nhật Bản về kinh tế, chính trị, quân sự.
- Từ năm 1950 đến năm 1973: Giai đoạn các nước Tây Âu, Nhật Bản sau khi khôi phục kinh tế đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành đối thủ cạnh tranh nguy hiểm của Mĩ trên thế giới hình thành ba trung tâm kinh tế chính trị là: Mĩ, Tây Âu và Nhật Bản.
- Từ năm 1973 - 1991: Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới diễn ra trong nửa đầu những năm 70, các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã sớm đi vào cải tổ lại cơ cấu kinh tế, đi sâu vào cuộc cách mạng - kĩ thuật (đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ) và tìm cách thích nghi về chính trị xã hội. Do đó từng bước vượt qua được những cuộc khủng hoảng kinh tế vào đầu những năm 80 và sau đó tiếp tục phát triển về kinh tế, ổn định về chính trị, nâng cao đời sống người dân. Một số nước sau khi giành được độc lập, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa đã phát triển trở thành những nước công nghiệp mới (NICs)
Một số đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa tư bản hiện đại: (1,5 điểm)
- Sự chuyển sang chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước (tức sự dung hợp giữa các tập đoàn tư bản lũng đoạn với nhà nước). Những thập niên gần đây, không chỉ dừng lại ở tập đoàn tư bản nhà nước mà còn phát triển thành chủ nghĩa tư bản độc quền siêu quốc gia (độc quyền trên phạm vi nhiều nước).
- Sự liên hợp quốc tế của chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước (nhất thể hóa quốc tế)
- Cuộc cách mạng khoa học - Kĩ thuật ở những nước tư bản phát triển dẫn đến nhảy vọt về năng xuất lao động, về trình độ sản xuất xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của con người không ngừng được nâng cao.
- Các nước tư bản phát triển và các nước tư bản châu Âu nói chung đều đã có sự phát triển đáng kể về văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật.
Các nước tư bản vẫn luôn tồn tại những mâu thuẫn xã hội và những tệ nạn xã hội: mâu thuẫn giữa tư bản và công nhân, mâu thuẫn giữa các nước tư bản với nhau, mâu thuẫn giữa những người giàu có và những người nghèo, những tệ nạn xã hội và nếp sống không lành mạnh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét